INDEX | HOME | WRITINGS | CAI BONG TRANG CUA BOB
 

 

 

 

 

Bob đưa cho tôi hai xấp hồ sơ giầy cộm, nhờ tôi duyệt lại dùm rồi hăm hở ra về.

Bốn giờ chiều Thứ Sáu với những niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt của một anh chàng thanh niên Mỹ làm cùng sở, gốc Ái Nhĩ Lan. Tôi biết, Bob đang nóng lòng muốn trở về nhà để đi dinner cùng với Katharine, người vợ mới cưới, trẻ và đẹp, của anh ta. Nhìn cái xấp hồ sơ cao ngất ngưởng mà Bob đẩy qua bàn bên này, cộng thêm vào những cái vẫn chưa được hoàn tất của riêng tôi, tôi chỉ lắc đầu ngao ngán, nhưng chắc chắn là không nở lòng nào “say no” với anh bạn làm cùng sở, lúc nào cũng cởi mở và tận tình với người khác.

Vẫn cón nhớ rất rõ buổi trưa hôm đó, Katharine tìm tới sở mang cho Bob xem những tấm hình ultrasound mà cô ta vừa chụp được lúc lên checkup trên bệnh viện. Với mái tóc vàng óng ả của một cô gái Mỹ trẻ, Katharine trông rất đỏm dáng và mô đăng. Nàng hoạt bát, cười nói huyên thuyên rất tự nhiên với tất cả mọi người trong sở. Thỉnh thoảng tôi khẻ liếc nhìn, Bob đứng gật gù bên cạnh, một nét hảnh diện lộ rõ trên khuôn mặt trẻ, trông bảnh trai, mặc dù thoạt nhìn, có hơi sổ sữa đôi chút.

“Hey James,” Bob chợt quay lại, quẵng vào bàn cho tôi tấm hình ultrasound anh vẫn đang cầm, “take a look!” nụ cười khả ái treo lủng lẳng trên môi. Tôi cầm lên, loáng thoáng bóng dáng tờ mờ của một hài nhi trên trang giấy in trắng. Lịch sự, tôi trả lại và nói: “Congratulation!” Rồi nhẹ giọng thêm một câu nữa: “Hey, I thought you mentioned about twin the other day, didn’t work hard enough?” Bob trợn to đôi mắt xanh trong vắc của anh lên, ý nói rằng “Ê, nói nho nhỏ chút xíu ông nội, bà xã đang đứng bên cạnh!” Rồi hai anh chị giắt tay nhau, khắn khít rời khỏi văn phòng. Nhìn đôi uyên ương dễ thương đó, tôi chợt nhớ tới E. và những năm tháng đầm thấm khi chúng tôi mới về sống chung với nhau sau ngày cưới. Cuộc sống của đôi vợ chồng son lúc nào cũng đầm ấm và đẹp như một giấc mơ tiên... Chiều thứ sáu hôm đó, vì cái đống hồ sơ nặng chình chịch, tôi bắt buộc phải ở lại trể, hai ngày cuối tuần hứa hẹn bày ra trước mặt, trông rất quyến rũ, nhưng không thể nào làm dứt công việc để khỏi phải bận tâm. Cuối cùng đành phải lục tục, thu xếp ra về để còn phải đến trường rướt con và chuẩn bị buổi cơm tối cho gia đình…
 



 


Mười giờ đêm cùng ngày, tôi nhận được cú điện thoại của Bill, anh manager của tôi và Bob. Tôi hơi giật mình, năm khi mười họa mới có những cú phone lạ lùng từ Bill như vậy, càng không thể tưởng tượng được cú điện thoại lại đến muộn vào một buổi tối Thứ Sáu, khi nguời Mỹ rất quí những giây phút cuối tuần riêng tư mà chắc chắn chỉ dành riêng cho gia đình và người thân.

Ở đầu giây bên kia, Bill nặng giọng:

“Hey James, This is Bill. I’m in the hospital right now…” Bill ngừng lại một đôi phút., “Just call to let you know that…” anh khựng lại một lần nữa, “Bob is dead!”

Toi tưởng tôi nghe lầm, “What?”… “Who?”

“Bob is dead” Bill lập lại, rồi như cố lấy lại một đôi chút trầm tỉnh, “I know it’s hard for you to believe, but doctors in the hospital have just pronouned him dead, a few minutes ago.”

“… …”

Câu chuyện treo lơ lửng ở đó, Bill cố giải thích thêm nhưng tôi mơ hồ nghe như có một chút gì uất nghẹn, bên này hay bên kia đường dây điện thoại. Quên cả sự hiện diện của hai đứa con bên cạnh, bấy giờ Tristan định đến bên chiếc ghế tôi đang ngồi, nhưng Maeve nắm vội tay, kéo nó đi:

“Dad needs time to be alone, Tris. I think his friend’s just passed away…” Rồi Maeve hạ giọng xuống rất nhỏ, như thì thầm với Tristan “Let’s go!”

Bob bị heart-attack đêm đó khi tuổi chưa đầy ba mươi, bỏ lại cô vợ trẻ tóc vàng, đương mang thai. Đám tang của Bob đến rất khó khăn, một tuần lễ sau đó. Nhìn Katherine trên bục gỗ của New Hope Community Church, một nhà thờ nhỏ nằm giữa thành phố New Hall, tôi cảm thấy đau khổ giúp cho cô ta. Nhất là lúc mà Katherine cố gắng trầm tỉnh để nhắc lại những kỹ niệm đẹp giữa cô và Bob, nàng gượng cười khi gợi nhớ một vài thói quen dễ thương, nhưng rất con nít của Bob. Tôi thấy hai hàng nước mắt, từ từ chảy xuống đôi gò má... Một cảm giác lạnh lùng của cuộc sống mong manh, sống đó chết đó, ập lẹ làng xuống với tôi, nặng nề. Chứng kiến một đời người ra đi, như một cơn gió thoảng, mới đâu đây hôm qua mà hôm nay đã tan biến vào cõi hư không. Tôi bỗng thấy buồn vu vơ, và chợt nghĩ tới một đứa bé sẽ ra đời, định mệnh hình như đã an bài sẵn để mồ côi cha.

Một tuần lễ sau đó, khi vẫn còn loay hoay với mấy cái hồ sơ dang dở của Bob. Trong một buổi sáng đầu tuần, tôi đến sớm hơn mọi ngày, định nhín thêm ra một ít thời gian trống để hoàn tất một số công việc cần thiết. Rất sớm, cho nên công ty vắng, những dãy bàn nằm yên lặng trong một gian phòng bao trùm giữa nỗi lạnh lùng khi không có ai bên cạnh. Tinh sương của mùa đông LA, trời vẫn còn rất tối. Tôi cố gắng tập trung tâm trí để làm việc. Nửa tiếng sau, khi tôi bắt đầu thở phào nhẹ nhỏm vì cuối cùng cũng được cái diễm phúc bấm cái nút Print trên khung Windows. Nhấp một hóp café nóng, chờ thêm một vài giây cho cái ấm áp chạy xuống lòng ngực, tinh thần bỗng dưng cảm thấy sảng khoái hơn. Tiếng máy in vừa ngưng lại, tôi quay ra phía sau định vói tay lấy cái bản in trong máy. Một cảm giác ngược lại, rất lạnh, chạy rất nhanh phía sau gáy… cuối dãy bàn mà Bob thường ngồi, một cái bóng trắng… Môt cái bóng trắng, trong góc tường, đương đứng nhìn tôi, yên lặng, âm thầm, từ lúc nào. Hốt hoảng, tôi đứng bật giậy, lúng túng làm đổ ly café xuống cái keyboard phía trước mặt… Linh tính báo cho tôi biết là Bob, rõ ràng là Bob, mái tóc phẳng phiu và gương mặt trẻ trung sổ sữa của anh, trong cái áo choàng trắng phủ xuống tới chân… Tôi định tâm nhìn lại, phía cuối gian phòng, bấy giờ, không gì khác hơn, ngoài một chiếc bàn của Bob, trống không…

“Bob, is that you?...” Tôi hỏi nhỏ, vu vơ, tiếng vang vọng lại trong không gian trống trải. “Bob?” Tôi kêu tên anh thêm một lần nữa, gian phong vẫn trống… Yên lặng chạy dài theo cảm giác của một cái gì đó vừa huyền bí, vừa xa lạ.

Không định nói cho bất cứ một ai về một câu chuyện mà tôi nghĩ là ngộ nhận, nhưng hình ảnh mơ hồ của Bob vào buổi hừng đông hôm ấy làm cho tôi khó chịu. Nửa tin nửa ngờ, tôi thắc mắc với đôi mắt của chính mình, nhưng lại không nghĩ là mình nhìn lầm. Đến trưa, không dằn được, tôi quyết định mang câu chuyện ra bàn với Bill. Anh phản ứng rất nhanh khi nghe tôi nói, đẩy tôi vào văn phòng, đống cửa lại, rồi bảo tôi mô tả lại cặn kẻ về cái bóng trắng mà tôi trông thấy lúc sáng. Sau khi nghe xong, Bill trầm ngâm một đôi phút rồi như khẳn định với chính anh:

“I saw the exact samething in your office two days ago. At first, I thought it was you in there, but then I turned around and saw you walked out of the lunch room. I immediately knew that it was him…”

Cũng như Bill, tôi rất sửng sốt vì qua lời nói của anh tôi cũng vừa được minh chứng cho một điều rất mơ hồ của chính bản thân tôi... Có thể, Bob đã quay lại, còn vấn vương cho một điều trần tục gì đó, hay một lần đến thăm thay cho một lời từ giả mà anh chưa kịp nói, hôm Thứ Sáu…
 




 

Mùa vẫn đến rồi đi, ngày vẫn trôi, nhưng cả một mùa đông năm đó, và mùa đông tới, tôi không còn thấy Bob nữa…

Hôm nọ, Maeve hỏi tôi: “Do you believe in ghost, Daddy?”

Toi nghĩ đến Bob, và cái bóng trắng vào một buổi sáng mùa đông năm ấy, rồi không ngần ngại, trả lời: “I’m not quite sure I believe in ghost, but I am pretty sure that there are definitely some kind of spiritual things out there.”